Loạt bài: Hà Nội - Hành trình gọi tên những người đã làm nên lịch sử.
Kỳ 3: Không để một sự hy sinh trở thành một khoảng trống của lịch sử
QPTĐ-58 năm! Gần sáu thập kỷ một gia đình đi tìm người thân đã hy sinh.
“Người lính ấy là liệt sĩ Lê Cảnh Tuân, sinh năm 1945, là chiến sĩ Công an Vũ trang tỉnh Hà Tĩnh, hy sinh ngày 24/5/1965 tại Bệnh viện Quân y 103 khi mới tròn 20 tuổi. Suốt 58 năm tìm kiếm, cuối cùng gia đình đã được đón anh trở về Nghĩa trang huyện”. Thượng tá Nguyễn Đình Trung, Trợ lý Phòng Chính sách, Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội-người có 16 năm làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và cũng đang trong hành trình đi tìm người bác ruột hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ-chậm rãi kể lại.
Một người lính ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Một gia đình chờ đợi gần trọn một đời. Một cái tên bị chiến tranh, thời gian phủ lấp. Nhưng để gọi đúng tên một người đã hy sinh cách đây hàng chục năm, không thể chỉ dựa vào một thông tin.
Năm 2021, khi tiếp nhận thông tin về liệt sĩ Lê Cảnh Tuân do gia đình và Cục Chính sách, Tổng cục Chính trị cung cấp, Thượng tá Nguyễn Đình Trung chủ động tham mưu, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, cơ quan báo chí đăng thông tin tìm đồng đội, phát phiếu cung cấp thông tin để bổ sung dữ liệu.
Cái khó lập tức hiện ra: Hồ sơ không thống nhất. Hai giấy báo tử ghi thời điểm, địa điểm hy sinh khác nhau. Một giấy xác định đồng chí mất ngày 24/5/1965 tại Quân y Viện 103; giấy khác lại ghi hy sinh ngày 15/6/1968 tại Mặt trận phía Nam, an táng tại nghĩa trang mặt trận. Từ hai mảnh ghép khác biệt, một bức thư, lời kể gia đình và khảo sát thực địa, tất cả vẫn chưa đủ để kết luận.
“Để xác định chính xác danh tính và nơi yên nghỉ của liệt sĩ, chúng tôi phải tổ chức nhiều cuộc trao đổi, hội nghị phối hợp giữa Bộ Tư lệnh, Bệnh viện Quân y 103, cơ quan chức năng và gia đình. Từ hồ sơ, khảo sát, xác minh thực tế, lập bản đồ tìm kiếm, từng mảnh ghép mới được đặt lại đúng vị trí”, anh Trung nhớ lại.
Kết quả xác minh cho thấy liệt sĩ Lê Cảnh Tuân bị thương, điều trị tại Viện Quân y 103, sau đó mất và được suy tôn là liệt sĩ; nơi an táng ban đầu thuộc Nghĩa trang Viện Quân y 103 cũ. Ngày 23/2/1984, Ban Phục vụ lễ tang Hà Nội chuyển mộ về Nghĩa trang Yên Kỳ, Ba Vì, Hà Nội, khu mộ A17A, mộ số 248. Nhưng giấy tờ vẫn chưa hoàn toàn trùng khớp.
“Chúng tôi phải phối hợp bổ sung thông tin, nhưng cũng phải đến lần thứ hai, thông tin đính chính mới trùng khớp. Sau hơn hai năm ròng rã thu thập, rà soát, xác minh, Hội nghị kết luận thông tin phần mộ liệt sĩ mới được tiến hành”, Thượng tá Nguyễn Đình Trung nói.
Ngày 16/10/2023, thực hiện nguyện vọng của gia đình ông Lê Cảnh Văn, em trai liệt sĩ, lễ cất bốc, bàn giao hài cốt liệt sĩ Lê Cảnh Tuân được tổ chức trang trọng, đúng nghi thức.

58 năm chờ đợi, cuối cùng một cái tên trở về! Nhưng một cái tên không phải là vài chữ trên tấm bia. Đó là căn cước một con người.
Ông Lê Cảnh Văn, em trai liệt sĩ, một cựu chiến binh nhớ lại: “Anh Tuân là con bác của Chú nhưng vì bố mất sớm khi anh ấy mới 3 tuổi nên bố mẹ Chú đón hai chị em về nuôi, coi như con đẻ, còn mẹ anh đi bước nữa. Khi anh nhập ngũ thì mẹ mang bầu Chú. Mẹ kể, lúc sinh Chú, anh vẫn viết thư hỏi: Mẹ ơi, mẹ sinh em ba là em trai hay gái? Vậy thôi..., rồi anh hy sinh”.
Khi biết người con mình hết lòng yêu thương đã hy sinh, bố ông Văn từng suy sụp tinh thần nặng nề; rồi bao ngày đêm đi tìm người con ấy. Đến khi qua đời, nỗi day dứt ấy vẫn chưa thành hiện thực. Ngày đưa được anh trở về, mẹ ông Văn đã 97 tuổi. Bà còn nhận thức được con mình trở về nhưng không còn minh mẫn, chỉ cầm tay người lính mà không nói thành lời.
“Gia đình vỡ òa vui mừng, giống như cảm xúc anh được sinh ra lần thứ hai. Chúng tôi biết ơn các cơ quan, đoàn thể đã không quản ngại khó khăn để tìm và đưa anh trở về”, ông Văn nghẹn ngào.
.jpg)
Câu chuyện ấy cho thấy: Tìm một cái tên là bài toán phục dựng chứng cứ. Một thông tin sai có thể dẫn tới giả định sai; một địa danh thay đổi có thể làm đứt một dấu vết; một hồ sơ thiếu hụt có thể khiến cả quá trình phải bắt đầu lại. Trước đây, lực lượng tìm kiếm phải lần theo hồ sơ, nhân chứng, địa bàn, di vật và khảo sát. Mỗi mảnh ghép có thể mở ra một hướng nhưng cũng có thể dẫn đến ngõ cụt.
Thượng tá Nguyễn Đình Trung kể: “Trước năm 2013, công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ vẫn được thực hiện nhưng chưa có phương pháp khoa học đồng bộ nên kết quả chưa cao. Năm 2013, các cơ quan tham mưu cho Chính phủ phê duyệt Đề án 150 về giám định ADN, phương pháp thực chứng để xác định danh tính liệt sĩ chưa rõ thông tin và Đề án 1237 về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Tuy nhiên, hai Đề án khi đó giao cho hai cơ quan tách biệt, kết nối chưa thường xuyên. Năm 2018, hai Ban Chỉ đạo hợp nhất thành Ban Chỉ đạo 515. Đến Chiến dịch 500 ngày đêm, sự vào cuộc được tiến hành đồng loạt, phối hợp chặt chẽ hơn”.
Những bước chuyển ấy cho thấy, bài toán không chỉ nằm ở việc có thêm một phương pháp, mà quan trọng hơn là kết nối những nguồn chứng cứ vốn từng rời rạc vào một quy trình thống nhất, đủ chặt chẽ để đi đến một danh tính. Giám định ADN vì thế không thay thế tìm kiếm, quy tập, rà soát hồ sơ hay xác minh thực địa. Nó tạo thêm một căn cứ sinh học để đối chiếu dấu vết còn lại của người đã khuất với mẫu sinh học của thân nhân.
Trong Chiến dịch 500 ngày đêm của Hà Nội, các lực lượng đang từng bước thu nhận mẫu sinh phẩm tại thực địa, hoàn thiện hồ sơ và chuyển mẫu sang khâu phân tích chuyên môn; phía Công an đồng thời thu nhận mẫu ADN của thân nhân để tạo cơ sở đối chiếu. Hai nguồn dữ liệu phải được khớp nối mới có thể đưa ra câu trả lời.
Chiến dịch 500 ngày đêm vì thế không phải là điểm bắt đầu của việc ứng dụng ADN, mà là bước thúc đẩy việc kết nối, mở rộng và tổ chức các nguồn chứng cứ khoa học trong hành trình xác định danh tính liệt sĩ. ADN tạo thêm một căn cứ khoa học để kiểm chứng những dấu vết từ thực địa và hồ sơ, thông qua đối chiếu với mẫu sinh học của thân nhân.
ADN không tự gọi tên một người. Nó chỉ có thể trả lời khi con người tìm đúng dấu vết, lấy đúng mẫu và đặt những mẫu ấy vào một quy trình kiểm chứng đủ chặt chẽ.
Trung tướng Đào Văn Nhận, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội nhấn mạnh: “Để về đích trước thời gian theo kế hoạch, mỗi ngày Bộ Tư lệnh chỉ đạo hàng trăm cán bộ, chiến sĩ có mặt ở thực địa để thực hiện nhiệm vụ. Chúng tôi cho rằng, giá trị lớn nhất của Chiến dịch 500 ngày đêm không chỉ nằm ở việc xác định thêm bao nhiêu danh tính liệt sĩ, mà ở chỗ khẳng định cách một quốc gia ứng xử với lịch sử của mình. Mỗi cái tên được trả lại là thêm một mảnh ghép được đặt đúng vị trí trong ký ức dân tộc, để sự hy sinh không bị thời gian phủ mờ và lịch sử được lưu giữ bằng những chứng cứ xác thực nhất”.
Theo Trung tướng Đào Văn Nhận, đây không phải nhiệm vụ riêng của lực lượng vũ trang mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị; mục tiêu không chỉ hoàn thành một chiến dịch, mà xây dựng phương thức tri ân bền vững, kết nối sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của chính quyền, kỷ luật Quân đội, khoa học và sự đồng hành của nhân dân.
“Đối với lực lượng vũ trang Thủ đô, mỗi cán bộ, chiến sĩ đều nhận thức rằng mình đang gìn giữ một phần ký ức của đất nước. Trả lại tên cho các anh hùng liệt sĩ cũng là trao lại cho các thế hệ mai sau một lịch sử đầy đủ, chân thực; để hòa bình hôm nay không chỉ được thụ hưởng, mà còn được thấu hiểu, gìn giữ và tiếp nối bằng trách nhiệm đối với Tổ quốc”, Trung tướng Đào Văn Nhận nói.
Đằng sau mỗi danh tính là một số phận. Mỗi phần mộ được xác định là một khoảng trống khép lại. Mỗi chứng cứ được xác lập là một mảnh lịch sử thật được giữ lại.

Nếu một liệt sĩ tiếp tục vô danh, một gia đình tiếp tục chờ đợi. Nếu hồ sơ tiếp tục bỏ ngỏ, lịch sử tiếp tục thiếu một chứng cứ. Đáng sợ không chỉ là một người chưa có tên trên bia mộ; đáng sợ hơn là một sự hy sinh cụ thể dần bị thu nhỏ thành một con số vô danh trong ký ức cộng đồng.
Bởi vậy, trả lại tên không phải để làm quá khứ đẹp hơn. Đó là làm cho quá khứ đầy đủ hơn, xác thực hơn và có con người hơn: Để gia đình biết người thân mình ở đâu, để người lính sau hàng chục năm trở về đúng tên, để hồ sơ lịch sử không còn khoảng trống. Sâu xa hơn, để thế hệ hôm nay hiểu rằng hòa bình không tự nhiên mà có. Tìm lại một cái tên không thể làm thay đổi quá khứ. Nhưng nó làm quá khứ đầy đủ hơn; để hiện tại biết trân trọng hòa bình hơn và tương lai hiểu rõ hơn trách nhiệm phải tiếp nối.
Kỳ 1 đặt ra câu hỏi vì sao phải trả lại tên. Kỳ 2 đi tìm cách trả lại tên. Kỳ 3 trả lời: Để mỗi sự hy sinh có một căn cước; mỗi gia đình có một điểm tựa; mỗi thế hệ biết mình đang thừa hưởng điều gì.
Ở tuổi 20, Lê Cảnh Tuân “ra đi”! 58 năm sau, cái tên ấy trở lại trong vòng tay gia đình. Khoảng cách giữa hai thời điểm là hơn nửa thế kỷ nhưng điều nối chúng lại chỉ là một mong muốn giản dị: Biết người thân mình đang ở đâu.
Bởi khi một cái tên được trả lại, không chỉ một người trở về. Một phần lịch sử cũng trở về.
Trần Hiền - Việt Dũng


