Tạo dựng và phát triển hệ sinh thái công nghiệp thế hệ mới
QPTĐ-Quốc hội đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% mỗi năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030. Để có thể hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao như vậy, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh, Việt Nam không thể chỉ dừng lại ở việc thu hút đầu tư hay tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài mà cần từng bước làm chủ công nghệ, phát triển năng lực sản xuất, hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao và nâng cao vị thế của doanh nghiệp Việt Nam. Tạo dựng và phát triển công nghiệp thế hệ mới đòi hỏi phải xây dựng hệ sinh thái công nghiệp và công nghệ có khả năng kết nối các nguồn lực, giải quyết những bài toán từ thực tiễn và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Làm chủ công nghệ thế hệ mới chiến lược
Các chính sách lớn quốc gia về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tập trung nguồn lực làm chủ các công nghệ chiến lược, phát triển năng lực công nghiệp trong nước; lấy trí tuệ nhân tạo và sản xuất thông minh làm động lực nâng cao năng suất, đổi mới mô hình tăng trưởng; đồng thời mở rộng không gian thử nghiệm và phát triển thị trường đổi mới sáng tạo. Các lĩnh vực công nghệ cốt lõi như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn và phương tiện bay không người lái (UAV), được định hướng sẽ lựa chọn những sản phẩm trọng điểm để tập trung nghiên cứu, phát triển theo các bài toán cụ thể.
Trong lĩnh vực bán dẫn, mục tiêu đến năm 2030 cả nước có ít nhất 100 doanh nghiệp thiết kế, một nhà máy chế tạo chip quy mô nhỏ, 10 nhà máy đóng gói, kiểm thử, với doanh thu đạt tới 25 tỷ USD mỗi năm. Cùng với đó là tận dụng thị trường trong nước để phát triển các sản phẩm như chip chuyên dụng, cảm biến, thiết bị thông minh, nâng cao giá trị do Việt Nam tạo ra.
Đối với UAV và kinh tế tầm thấp, mục tiêu quốc gia đến năm 2030 là đưa vào vận hành ba khu thử nghiệm bay cấp quốc gia và tối thiểu một trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia về UAV. Lĩnh vực này mở ra cơ hội kết nối AI, bán dẫn, phần mềm điều khiển và công nghiệp chế tạo, với các ứng dụng trong nông nghiệp, logistics, hạ tầng và cứu hộ.
Ở lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, Việt Nam định hướng không chỉ nghiên cứu, phát triển mà còn phải thúc đẩy chuyển đổi AI trên phạm vi toàn quốc, với nhiều mục tiêu quan trọng. Trong đó, cả nước sẽ hình thành ba trung tâm AI xuất sắc tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh; đào tạo 10.000 nhân lực AI chất lượng cao và trang bị kiến thức AI cơ bản cho 10 triệu lao động đến năm 2030, nhằm chuẩn bị cho sự chuyển dịch về nghề nghiệp.
Một định hướng quan trọng khác là mở rộng không gian thử nghiệm có kiểm soát, cho phép doanh nghiệp thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ mới chưa có quy định pháp luật điều chỉnh hoặc khác với quy định hiện hành, với thời gian thử nghiệm tối đa ba năm. Bộ Khoa học và Công nghệ dự kiến ban hành nghị định mới về thử nghiệm công nghệ có kiểm soát theo hướng trao quyền lớn hơn cho địa phương, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia thử nghiệm.
Mô hình thành phố công nghiệp thế hệ mới
Năng lực cạnh tranh công nghiệp phải dựa trên sự phối hợp liên ngành, thay vì chỉ dựa vào đất đai hay lao động giá rẻ. Tinh thần của Nghị quyết 57 ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, đó là biến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành năng lực sản xuất và giá trị kinh tế cụ thể.
Công nghiệp thế hệ mới gồm các lĩnh vực trọng tâm như trí tuệ nhân tạo (AI), hạ tầng công nghệ số, năng lượng thế hệ mới, sản xuất thông minh và những ngành công nghiệp có tiềm năng tạo ra động lực tăng trưởng mới.
Hạ tầng số và AI: Trung tâm dữ liệu và năng lực tính toán đang trở thành hạ tầng thiết yếu của kinh tế số, tương tự điện, đường và cảng trong các giai đoạn công nghiệp hóa trước.
Bán dẫn và công nghệ lõi: Chip bán dẫn là thành phần thiết yếu của hầu hết sản phẩm công nghệ cao.
Năng lượng xanh: Trung tâm dữ liệu và nhà máy công nghệ cao tiêu thụ nhiều điện, đồng thời phải giảm phát thải. Vì vậy, nguồn điện sạch và ổn định ngày càng quyết định lựa chọn đầu tư.
Nguồn nhân lực: AI đang làm thay đổi yêu cầu kỹ năng. Việt Nam có lực lượng lao động trẻ và đông, nhưng cần đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại với sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nhà trường.
Liên kết Nhà nước-doanh nghiệp-viện, trường: Nhà nước kiến tạo chính sách và hạ tầng; doanh nghiệp đặt bài toán; viện, trường cung cấp năng lực nghiên cứu. Thiếu một mắt xích, công nghệ khó đi từ phòng thí nghiệm vào sản xuất.
Chuẩn bị về hạ tầng cho công nghiệp thế hệ mới
Ở góc độ địa phương, Thành phố Hồ Chí Minh đã sẵn sàng cho mô hình thành phố công nghiệp thế hệ mới. Sự chuẩn bị không chỉ thể hiện ở định hướng phát triển mà còn được cụ thể hóa thông qua các cơ sở pháp lý, chính sách và công tác quy hoạch. Hiện thành phố đang hoàn thiện Quy hoạch tổng thể, trong đó, thành phố chọn công nghiệp công nghệ cao, kết hợp các yếu tố đổi mới sáng tạo, khoa học và công nghệ làm động lực phát triển trong giai đoạn tiếp theo.
Thành phố có nền tảng quan trọng từ quá trình phát triển Khu Công nghệ cao Thành phố, Công viên Phần mềm Quang Trung cùng hệ thống hơn 80 trường đại học trên địa bàn sau mở rộng. Sau hơn 4 năm thúc đẩy phong trào đổi mới sáng tạo, thành phố đã hình thành hơn 40 vườn ươm, trung tâm đổi mới sáng tạo và trung tâm ươm tạo công nghệ. Đặc biệt, sau khi mở rộng không gian phát triển, Thành phố có dư địa lớn về đất công nghiệp. Trên cơ sở đó, Thành phố định hướng chuyển đổi các khu công nghiệp trong thành phố hiện hữu thành các phân khu chức năng khác, đồng thời bố trí các khu vực công nghiệp quy mô lớn tại Bắc Tân Uyên (Bình Dương trước đây) và Châu Đức (Bà Rịa-Vũng Tàu trước đây).
Thành phố cũng định hướng phát triển các khu công nghệ cao, các khu nông nghiệp công nghệ cao và các khu công nghệ số. Để thúc đẩy nhanh quá trình chuẩn bị hạ tầng, cơ sở vật chất, sẵn sàng đón các nhà đầu tư, cùng với đầu tư công, Thành phố đẩy mạnh hợp tác công-tư và thu hút đầu tư tư nhân. Thành phố đã thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm với quy mô 500 tỷ đồng và dự kiến tiếp tục nâng vốn cho quỹ, nhằm thúc đẩy đầu tư, tạo điều kiện cho các dự án khởi nghiệp sáng tạo phát triển mạnh mẽ.
SONG HÀ



